Cơ sở lý luận của trắc nghiệm PDF. In Email
I. KHOA HỌC VỀ DẤU VÂN TAY
 
 

            Người ta đã biết rằng dấu vân tay của mỗi cá nhân là độc nhất. Xác suất hai cá nhân - thậm chí ngay cả anh em (hoặc chị em) sinh đôi cùng trứng - có cùng một bộ dấu vân tay là 1 trên 64 tỉ. Ngay cả các ngón trên cùng bàn tay cũng có vân khác nhau. Dấu vân tay của mỗi người là không đổi trong suốt cuộc đời. Người ta có thể làm phẫu thuật thay da ngón tay, nhưng chỉ sau một thời gian dấu vân tay lại được hồi phục như ban đầu.
 
            Dấu vân tay được khởi tạo ở thai nhi vào giai đoạn 6 đến 7 tuần tuổi. Đầu tiên lớp đệm được hình thành. Kích cỡ và vị trí của lớp đệm sẽ quyết định phần nào hình dạng kiểu vân tay. Nói chung, những lớp đệm có kích cỡ nhỏ sẽ tạo ra những vân dạng vòm; những lớp đệm kích cỡ lớn hơn sẽ tạo ra vân hình móc hoặc tròn. Nếu lớp đệm bị lệch thì nó sẽ tạo ra vân tay không đối xứng. Dấu vân tay bắt đầu nổi rõ khi thai nhi được ba tháng tuổi, được định hình và hoàn thiện vào lúc sáu tháng tuổi.
 
            Khoa học về dấu vân tay được Francis Galton khởi xướng vào cuối thế kỉ thứ XIX. Từ đó đến nay nó được phát triển mạnh mẽ nhờ một đội ngũ hùng hậu các nhà di truyền học và sinh vật học. Năm 1880, Henry Fault đưa ra lí luận về số lượng vân tay RC (Ridge Count) để đánh giá mức độ phụ thuộc của vân tay vào gen di truyền.
 
            Các nhà bác học cho rằng dấu vân tay được hình thành dưới tác động của hệ thống gen di truyền mà thai nhi được thừa hưởng và tác động của môi trường thông qua hệ thống mạch máu và hệ thống thần kinh nằm giữa hạ bì và biểu bì. Một vài trong số các tác động đó là sự cung cấp ôxy, sự hình thành các dây thần kinh, sự phân bố các tuyến mồ hôi, sự phát triển của các biểu mô… Điều thú vị là mặc dù có chung một hệ thống gen di truyền nhưng vân tay ở mười đầu ngón tay của mỗi cá nhân khác nhau. Năm 1868 nhà bác học Roberts chỉ ra rằng mỗi ngón tay có một môi trường phát triển vi mô khác nhau; ngoài ra ngón tay cái và ngón tay trỏ còn phải chịu thêm một vài tác động môi trường riêng. Vì vậy, vân tay trên mười đầu ngón tay của một cá nhân khác nhau. Hai anh em (chị em) song sinh cùng trứng có dấu vân tay khá là giống nhau nhưng vẫn có thể phân biệt được rõ dấu vân tay của từng người. Đó là vì tuy có cùng hệ thống gen di truyền và chia sẻ chung môi trường phát triển trong bụng mẹ nhưng do họ có vị trí khác nhau trong dạ con nên môi trường vi mô của họ khác nhau và do đó có dấu vân tay khác nhau.
 
            Năm 1968 nhà bác học Holt đã chứng minh được rằng có thể dự đoán tương đối chính xác tổng số lượng vân tay TRC (Total Ridge Count) và mức độ phụ thuộc của chúng vào gen di truyền của mỗi người. Vì vậy có thể coi TRC là một biểu hiện phụ trợ của hệ thống gen mà con người được thừa kế. TRC phản ánh gần đúng sự đóng góp của từng gen riêng biệt trong hệ thống gen vào việc hình thành một con người cụ thể. Thật vậy, dấu vân tay được hình thành dưới tác động của hai yếu tố hệ thống gen và môi trường nên nó phản ánh được quá trình hình thành và phát triển của thai nhi.
 
            Dấu vân tay được sử dụng rộng rãi để nhận dạng cá nhân, để hội chẩn những chứng bệnh do di truyền và phát hiện tiềm năng của con người.
 
            Việc sử dụng dấu vân tay và vân chân để nhận dạng đã được người Trung Quốc làm từ thế kỉ thứ XIV. Khi một đứa trẻ ra đời, người Trung Quốc đã dùng mực bôi đen chân tay nó và in dấu lên một tờ giấy.
 
            Người Anh bắt đầu sử dụng dấu vân tay một cách tình cờ vào tháng bảy năm 1858. Ngài William Herschen, một quan cai trị người Anh tại Ấn độ, do quá bức xúc với tính gian trá đã bắt thương gia bản xứ là Rajyadhar Konai in dấu bàn tay lên mặt sau của tờ hợp đồng.
 
            Vào nửa sau của thế kỉ XIX, Richard Edward Henry của Scotland Yard (cơ quan an ninh của Anh) đã phát triển phương pháp phân loại và nhận dạng dấu vân tay. Phương pháp này được Francis Galton cải tiến vào năm 1892 và được sử dụng làm cơ sở thực nghiệm với độ tin cậy cao. Hầu như đồng thời với hệ thống phân loại vân tay của người Anh, Juan Vucetich đã tạo ra một hệ thống phân loại khác cho các nước dùng tiếng Tây Ban Nha. Hiện nay InterPol sử dụng cả hai hệ thống phân loại nêu trên. Ở Mỹ có nhiều hệ thống phân loại và xử lí thông tin vân tay. Tuy nhiên, có thể phân loại vân tay theo ba kiểu chính: xoáy tròn, móc và vòm. Ngoài ra, mỗi kiểu còn được phân theo độ nghiêng: 0, 45, 90 và 135 độ.
   
           Việc sử dụng dấu vân tay để nhận dạng được áp dụng rộng rãi trong đời sống của các nước công nghiệp phát triển. Dấu vân tay không những được sử dụng trong lĩnh vực hình sự mà còn được sử dụng trong việc xác nhận nhân thân của cá nhân khi truy cập mạng hoặc mở khoá; một số ngân hàng đã bắt đầu thanh toán thẻ ATM sử dụng máy đọc vân tay.
 
          Trong y học, dựa trên những bức tranh vân tay đặc trưng, người ta phát hiện ra những bệnh do sai lệch gen như hội chứng Down, hội chứng ba nhiễm sắc thể 18, ba nhiễm sắc thể 13, sai lệch nhiễm sắc thể giới tính XXX, XXY…
 
         Trong các xã hội công nghiệp hiện đại, các nhà vân tay học còn trợ giúp bố mẹ trong việc phát triển năng khiếu và hạn chế hoặc khắc phục phần nào những khiếm khuyết của con bằng cách đọc vân tay để dự báo tiềm năng. Tuy nhiên, dấu vân tay chỉ có tính phụ trợ trong việc nhận biết những nét tính cách được kế thừa bằng con đường di truyền và chỉ phản ánh gần đúng tiềm năng của cá nhân. Việc đọc và nhận dạng tiềm năng qua dấu vân tay chỉ có thể giúp bố mẹ và con cái nhận biết khả năng còn tiềm ẩn của con cái. Nhận dạng tiềm năng không thể thay thế quá trình rèn luyện để phát triển tiềm năng thành khả năng và tài năng
 
1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÂN TAY
 
- 1685    Cuốn sách đầu tiên về vân tay học do Gouard Bidloo viết được xuất bản.
 
- 1686    Marcello Malpighi Barcelona - Người đầu tiên dùng kính hiển vi quan sát vân tay và ghi chép vào biên niên sử.
 
- 1788    J.C.A.Mayer – Người đầu tiên soạn thảo các nguyên tắc cơ bản khi phân tích vân tay và phát hiện vân tay của mọi người không trùng nhau.
 
- 1823    John E.Purkinje Breslau – Người đầu tiên chia vân tay thành 9 loại.
 
- 1880    Trong tạp chí Nature, Bác sĩ Người Anh Henry Faulds đưa ra kiến nghị lấy dấu vân tay của tội phạm tại hiện trường xảy ra vụ án và đưa ra lý luận gien vân tay
 
- 1892    Francis Galton – Người đầu chia vân tay thành 3 nhóm: xoáy, móc, sóng.
 
- 1897    Harris Hawthorne Wilder – Nghiên cứu các gò trên bàn tay và gọi chúng là 3 điểm bán kính A, B, C; đồng thời đưa ra các chỉ dẫn về các loại vân chính.
 
- 1926    Nhà giải phẩu học người Mỹ Cummins và Midlo đã mở đường cho vân tay học (Dermatoglyphics) ra đời và phát biểu thuật ngữ “dermatoglyphics” (derma = skin ,glyph = carving)
 
- 1958    Noel Jacquin đã phát hiện ra đặc trưng tính cách của con người qua so sánh các loại vân tay khác nhau.
 
- 1967    Beryl B.Hutchinson – Người đầu tiên phát hiện vân tay học có thể chứng minh đặc trưng tính cách bẩm sinh của mỗi người.
 
- 1974    Beverly C.Jaegers nghiên cứu và đưa ra kết luận rằng các ký hiệu vân tay hiện thị trên bàn tay có thể cho biết đặc trưng tâm lý của con người.
 
2. SƠ ĐỒ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH VỀ PHÂN TÍCH VÂN TAY
 
- Giai đoạn 1 – Lý luận RC (Rigde Count)
 
- Giai đoạn 2 – Lý luận PI (Pattern Intensity)
 
- Giai đoạn 3 – Lý luận NGF (Nerve Growth Factor)
 
3. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÂN TAY


6 – 8 tuần tuổi

Lớp đệm hình thành

10 – 12 tuần tuổi

Lớp đệm thoái hoá

13 tuần tuổi

Vân tay hình thành và phát triển

21 tuần tuổi

Vân tay hoàn thiện




 
Lưu ý: Khi thai nhi được 14 tuần tuổi các vùng chính của não hình thành bao gồm cả vỏ đại não

II. DI TRUYỀN VÀ MÔI TRƯỜNG
 

            Di truyền và môi trường là hai yếu tố đồng tác động lên việc hình thành tính cách cá nhân.
 
            Di truyền là một trong hai yếu tố quan trọng quyết định tính cách cá nhân. Yếu tố thứ hai là môi trường. Môi trường bao gồm chế độ dinh dưỡng, môi trường tâm lí của gia đình, sự giáo dục gia đình cũng như xã hội và môi trường xã hội.
 
            Để nghiên cứu tác động của môi trường lên việc hình thành tính cách cá nhân, các nhà tâm lí học đã nghiên cứu những cặp song sinh cùng trứng – có cùng một hệ thống gen di truyền - bị chia rẽ ngay từ khi mới chào đời. Theo Thomas Bouchard, một trong những ví dụ điển hình là cặp song sinh cùng trứng Oscar Stohr và Jack Yufe.
 
            Do hoàn cảnh gia đình, hai anh em này bị chia rẽ. Oscar trưởng thành ở nước Đức quốc xã, đã từng tham gia vào đội thanh niên Hitle. Ông là một người thuộc phái bảo thủ và theo đạo Thiên chúa giáo. Sau chiến tranh ông là đốc công ở một nhà máy thuộc Cộng hoà liên bang Đức. Jack được nuôi dạy như một người Do thái, lớn lên ở một nước thuộc vùng biển Caribê. Ông theo Do thái giáo, căm ghét Đức quốc xã. Ông là người theo phái tự do và chủ một cửa hàng.
 
            Giống như mọi cặp song sinh cùng trứng bị chia lìa khác, Oscar và Jack khác nhau trong một số lĩnh vực quan trọng. Một trong hai người tự tin và cởi mở hơn người kia. Nhưng đáng nói nhất lại là tất cả những cặp song sinh bị chia rẽ luôn bộc lộ những nét giống nhau đến kì lạ. Khi còn đi học, cả Oscar lẫn Jack đều giỏi thể thao và kém toán. Cả hai có cách đi đứng và nói năng giống nhau. Cả hai đều ân cần và đãng trí. Họ cùng thích những món ăn có gia vị và rượu ngọt, cùng thích quấn băng co dãn quanh cổ tay và cùng xả nước bồn cầu trước và sau khi sử dụng nó.
 
            Sự giống nhau của cặp song sinh bị chia rẽ này hiển nhiên là do di truyền quyết định. Sự khác nhau của họ là do môi trường nuôi dạy tạo ra. Tuy nhiên, sự đóng góp của di truyền và môi trường vào việc định hình tính cách không chỉ đơn thuần là phép cộng các tác động. Bản thân môi trường và di truyền cũng tác động lên nhau, làm biến đổi nhau.
 
            Theo Conrad Waddington, có một số nét tính cách chịu tác động lớn của gen di truyền. Đối với những tính cách này, môi trường không thể tác động để thay đổi. Ví dụ, dù là bình thường hay điếc bẩm sinh, trẻ 8 đến 10 tháng tuổi đều phát ra những âm thanh bập bẹ, không chuyển tải ý nghĩa. Nói cách khác, dù có được bao bọc hay không bởi môi trường âm thanh thì trẻ vẫn phát ra những âm thanh bập bẹ này.
 
            Bên cạnh đó, một số nét tính cách khác lại chịu tác động lớn của môi trường như trí tuệ, cá tính và khí chất. Theo Gottesman, đối với những tính cách này di truyền sẽ cung cấp tiềm năng nhưng mức độ phát triển lại phụ thuộc rất lớn vào sự thuận lợi của môi trường.
 
            Đôi khi chúng ta nghe thấy các bậc cha mẹ phàn nàn: “Cháu nó có thiếu thốn gì đâu. Chúng tôi lúc nào cũng để mắt đến cháu, cố gắng dạy cháu những điều hay lẽ phải…” Giả sử tất cả những điều này là sự thật thì tại sao với một môi trường như vậy trẻ em lại chưa ngoan? Câu trả lời là môi trường do các bậc cha mẹ này tạo ra chỉ là môi trường mà họ chia sẻ với con. Bên cạnh đó trẻ em còn có môi trường không chia sẻ của riêng mình. Đó có thể là nhóm bạn ở trong và ngoài trường học, công việc hoặc thú vui mà trẻ yêu thích, sự đối xử của những người xung quanh đối với trẻ...
 
           Theo các nhà tâm lí học Scarr và McCartney, sự đối xử của những người xung quanh đối với trẻ có tính liên đới: trẻ có thể được đối xử tốt hoặc xấu có thể do những ứng xử không đẹp của bản thân. Nhưng đôi khi những ứng xử này lại có những lí do ít phụ thuộc vào bản tính của trẻ như ngoại hình đẹp hay xấu xí, quan hệ và địa vị xã hội của bố mẹ, họ hàng… Ngoài ra, trẻ toàn quyền trong việc lựa chọn môi trường không chia sẻ này. Vì vây, có thể nói là trẻ tách từ môi trường vĩ mô của mình một môi trường vi mô phù hợp với thiên hướng bẩm sinh - một khoảng trời riêng cho bản thân. Những môi trường - khoảng trời riêng có thể tác động rất mạnh lên sự phát triển xã hội, cảm xúc, trí tuệ và năng lực trong tương lai của trẻ.
 
          Tương quan giữa tác động môi trường cùng chia sẻ với tác động môi trường riêng thay đổi trong suốt thời niên thiếu. Khi trẻ còn nhỏ tuổi, chưa thể tự mình đến nhà bạn để chơi, tự mình ra khỏi nhà thì tác động của môi trường do bố mẹ tạo ra cực kì quan trọng. Khi trẻ bắt đầu vào tiểu học, vai trò của môi trường riêng, không chia sẻ ngày càng lớn, ngày càng tác động mạnh lên sự hình thành tính cách và năng lực của trẻ. Trong khi đó, tác động do môi trường mà trẻ chia sẻ cùng bố mẹ ngày càng giảm. Tác động do cách đối xử của những người xung quanh sẽ tồn tại suốt cuộc đời
 
         Để cho con cái phát triển tốt và toàn diện, ngoài môi trường mà bố mẹ tạo ra và chia sẻ với con, các bậc cha mẹ phải quan tâm để điều chỉnh môi trường riêng của trẻ. Công việc này phải bắt đầu ngay từ khi trẻ còn rất nhỏ. Bố mẹ phải hướng dẫn, giúp hình thành những sở thích và cách ứng xử phù hợp cho con. Điều đặc biệt quan trọng ở đây là con phải tự nguyện tiếp thu những cách ứng xử và tự do chọn sở thích. Mọi sự ép buộc chỉ dẫn đến việc khi đứa trẻ có cơ hội chọn lựa môi trường riêng không chia sẻ thì nó sẽ tìm cách giải phóng bản thân khỏi những ràng buộc mà bố mẹ đặt ra. Nói cách khác, nó sẽ chọn một môi trường riêng khác hẳn, thậm chí trong những trường hợp cực đoan sẽ trái ngược hẳn với mong muốn của bố mẹ.
 
III. MỐI LIÊN HỆ GIỮA KHẢ NĂNG CỦA CON NGƯỜI VỚI CẤU TRÚC NÃO BỘ
 
         Ai trong chúng ta cũng có những tính cách và khả năng riêng biệt. Đó là do bộ não của người này khác biệt so với bộ não của người khác về khối lượng và cấu trúc. Cụ thể là khác biệt về hình dạng các thuỳ não, các xếp nếp trên vỏ não, số lượng các mạch thần kinh.
 
          Bộ phận quan trọng nhất của não, kiểm soát toàn bộ các hành động có ý thức cũng như các hoạt động tư duy và sáng tạo là vỏ não. Vỏ não được chia thành hai bán cầu không đối xứng là bán cầu trái và bán cầu phải. Bán cầu não người có những rãnh sâu chia nó thành bốn thuỳ. Thuỳ trán nằm phía trước vỏ não, gồm các trung tâm vận động, ngôn ngữ và lí luận. Thuỳ đỉnh nằm phía sau thuỳ trán là tâm điểm cảm giác của cơ thể. Thuỳ thái dương nằm dưới thuỳ trán và thuỳ đỉnh, chứa vùng thính giác. Thuỳ chẩm nằm dưới thuỳ thái dương chứa vùng nhạy cảm thị giác. Các thuỳ tương ứng ở hai bán cầu não khác nhau về kích cỡ, phân bố và hình dạng của các nếp nhăn. Chính di truyền của cá nhân kết hợp với hình dạng, độ lớn của thuỳ não, số lượng neuron, số lượng kết nối giữa các neuron và số lượng nếp nhăn của thuỳ não tạo nên tiềm năng của cá nhân.
 
           Bán cầu não trái kiểm soát nửa phải của thân thể và ngược lại. Để có thể phối hợp các cử động của hai nửa thân thể, hai bán cầu được liên kết với nhau bằng một bó sợi thần kinh thể chai. Nếu bó sợi thể chai này bị cắt đứt thì con người có thể gặp khó khăn trong việc phối hợp hoạt động của nửa thân bên phải với nửa thân bên trái.
 
          Mỗi bán cầu não được chuyên môn hoá để đảm nhiệm một số chức năng khác nhau. Bán cầu não trái có vận tốc xử lí nhanh hơn và quản lí việc nói và hiểu ngôn ngữ, kĩ năng tính toán và tư duy lí luận. Bán cầu não phải có vận tốc chậm hơn, chịu trách nhiệm xử lí các mẫu hình ảnh, hoa văn, âm nhạc, các quan hệ không gian và thêm sắc thái tình cảm vào ngôn ngữ. Não trái nhận diện các gương mặt quen thuộc trong khi não phải xử lí thông tin về các gương mặt mới hoặc những vấn đề lạ lẫm.
 
          Xu thế xử lí thông tin của hai bán cầu não khác nhau. Não trái tỏ ra có tính phân tích cao hơn. Nó có xu thế xử lí tin theo chuỗi; mỗi lần một đơn vị. Não phải được coi là bán cầu có tính sáng tạo cao hơn. Nó có huynh hướng xử lí thông tin toàn diện, nghiên cứu thông tin trong một tổng thể. Nó chịu trách nhiệm xử lí những vấn đề mới lạ, những tình huống mới mẻ. Khi tính mới của hiện tượng bị mất đi, thông tin về nó sẽ thành thuộc tính của não trái và khi đã luyện tập nhiều lần, thông tin này có thể được chuyển về tiểu não, nơi quản lí các đáp ứng tự động.
 
         Ở những người thuận tay phải, bán cầu não trái thường lớn hơn và tích cực hơn bán cầu não phải. Bán cầu não trái ở phụ nữ thường to hơn bán cầu phải một cách rõ rệt trong khi ở nam giới bán cầu phải hơi to hơn bán cầu trái một chút. Đây có thể là một trong những nguyên nhân của hiện tượng số các bé trai học kém môn tập đọc ở những lớp đầu tiểu học nhiều hơn các bé gái cũng như các bé trai vận động nhiều hơn (nghịch ngợm hơn) các bé gái.
 
          Đối với những người thuận tay phải, bộ phận kiểm soát ngôn ngữ có lẽ tập trung ở bán cầu trái. Trong khi đó, ở người thuận tay trái (hoặc thuận cả hai tay) - những người này chiếm khoảng 10% dân số - thì bộ phận kiểm soát ngôn ngữ có lẽ nằm ở bán cầu phải hoặc chia đểu cho cả hai bán cầu. Những người thuận tay phải có thể đồng thời ghi chép và nghe giảng trong khi người thuận tay trái gặp khó khăn khi nghe và ghi chép đồng thời, thậm chí một vài người không thể làm được việc này.
 
          Nghiên cứu về não của các nhà bác học chỉ ra rằng tài năng hoặc năng lực của con người trong lĩnh vực nào đó càng lớn thì vùng não quản lí những năng lực thành phần của nó càng có nhiều neuron thần kinh được kết nối với nhau (bằng các sợi thần kinh nhỏ li ti – còn được gọi là đá ong hoá). Tương quan giữa số lượng các mạch thần kinh ở một vùng chức năng cụ thể với kiến thức hoặc khả năng hoặc kĩ năng tương ứng là rất cao. Ví dụ, một hoạ sĩ phải có bán cầu não phải phát triển cộng với các vùng chức năng thành phần (vùng thị giác xử lí thông tin về màu, vùng thị giác quản lí tri giác chiều sâu, vùng thị giác lớp cao và vùng quản lí cử động của cổ tay, bàn tay…) được đá ong hoá cao.
 
          Để một đứa trẻ có những tiềm năng tốt khi ra đời và có thể phát triển chúng thành khả năng và tài năng, mẹ của bé phải chăm sóc sức khoẻ cho bé ngay từ giai đoạn thai nhi, phải biết rõ về sự phát triển của bộ não.
 
          Thai nhi ở tuần tuổi thứ hai mươi có hơn 200 tỉ neuron thần kinh. Sau đó sáu tuần, chỉ còn lại khoảng 50% neuron. Những tế bào thần kinh sống sót được là những tế bào khoẻ mạnh. Hàng tỉ synapse (mối nối giữa các neuron thần kinh) được tạo ra trong quá trình synapse hoá. Trên cơ sở các synapse này, các neuron kết nối với nhau tạo thành các mạch chức năng.
 
         Sau khi chào đời, các synapse mới và các mạch chức năng mới tiếp tục được tạo thành dưới tác động của trải nghiệm. Trong quá trình học hỏi của trẻ, các neuron hình thành những cấu trúc đá ong hoá để ghi lại những kiến thức mới.
 
          Tuy nhiên, bên cạnh quá trình tạo các synapse mới, trong trải nghiệm còn song hành quá trình tỉa bớt các synapse. Sự cạnh tranh giữa các synapse - trong việc dẫn truyền các xung thần kinh tới cơ quan chức năng cụ thể - đã tỉa bớt các synapse kém hiệu quả. Các neuron thần kinh ứng với các synapse bị tỉa bỏ sẽ chết, dẫn đến việc chỉ còn những synapse hiệu quả nhất nối với một số vừa đủ neuron để điều khiển cơ quan chức năng nêu trên. Vì vậy, trong quá trình phát triển, khoảng một nửa các synapse của chúng ta sẽ bị mất đi. Chất lượng bộ não của ta sẽ phụ thuộc vào chất lượng các synapse, vận tốc lan truyền các xung thần kinh cũng như độ phức tạp và độ lớn của vùng chức năng được đá ong hoá.
 
          Trong độ tuổi từ 3 đến 6, não đạt được từ 90% đến 95% độ lớn ở người trưởng thành. Đây là giai đoạn tái cấu trúc các mạch chức năng tại thuỳ trán, nơi đảm trách tổ chức các hành động, hoạch định hành vi và quản lí sự chú ý.
 
          Những dấu hiệu nhận biết tài năng của trẻ bắt đầu xuất hiện ở độ tuổi từ 3 đến 6. Những khả năng và tài năng được biểu hiện thường hội tụ đủ ba yếu tố. Một là khả năng này được chú ý và dành rất nhiều thời gian để phát triển. Hai là nó có được các mạch cảm xúc chủ chốt được cá nhân hoá và sống sót sau cạnh tranh giữa các synapse. Ba là được rèn luyên (lặp đi lặp lại các hành động này).
 
         Nếu trẻ em không được tiếp xúc và chơi với bạn (do bị doạ nạt, stress hoặc lo lắng) cũng như không được tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển thì những mạch chức năng đúng đắn không được hình thành ở vùng cảm xúc và tác động xấu đến nhận thức. Theo tiến sĩ Bruce Perry (Đại học Y khoa Baylor) sự phát triển của não sẽ giảm 20% do một số cấu trúc của não kém phát triển. Điều này sẽ giảm khả năng học tập của trẻ trong tương lai.   

III.1- VÂN DA (Ridge):

Vân da là những đường gồ lên trên da, như hình vẽ (A)…

 
hình vẽ (A)               hình vẽ (B)

Tại sao phải tính số lượng vân da ngón tay? Vì động vật cấp thấp, như lợn, thỏ…số lượng vân da ngón tay của nó khá thấp; Động vật cấp cao như người, khỉ, vượn…thì có số lượng vân da ngón tay khá cao. Sự khác biệt lớn nhất giữa động vật cấp cao và động vật cấp thấp đó là NĂNG LỰC TƯ DUY. Động vật cấp cao có năng lực tư duy còn động vật cấp thấp thì không có. Vì vậy Sungaraden giả thiết số lượng vân da ngón tay càng nhiều thì dung lượng não (TRC) tương ứng sẽ càng lớn, tiềm năng học tập sẽ càng cao. Qua mười mấy năm phân tích, kiểm chứng, nghiên cứu trên hàng vạn mẫu, khẳng định giữa dung lượng não và số lượng vân da ngón tay có mối tương quan theo một tỉ lệ nhất định. Từ trung tâm điểm của vân ngón tay kẻ một đường thẳng tới tam giác điểm, số vân tay cắt ngang đường thẳng đó chính là số lượng vân ngón tay mà chúng ta cần tìm. Như hình vẽ (B)

 

III.2- TỔNG SỐ LƯỢNG VÂN TAY (Total Ridge Count)

Kết quả số lượng vân của mười đầu ngón tay trên hai bàn tay phải và tay trái cộng lại sẽ cho ta tổng số lượng vân da ngón tay (TRC)

 

III.3- ATD: Tìm 5 tam giác điểm a, b, c, d, t; Nối các tam giác điểm a, d, t thành một góc. Đó chính là góc ATD, như hình vẽ (C)



hình vẽ (C)

III.4-CHẤT TRẮNG (Neocortex) – CHẤT XÁM (Cortex)

 

III.4.1- Chất trắng: Nếm, ngửi, sinh sản….ăn, uống, ngủ, bài tiết …là một trong những chức năng chính của nó. Chất trắng là vùng bản năng tự nhiên.

III.4.2- Chất xám là: Sự suy nghĩ, học hành, tính toán, tư duy, sáng tạo ….là một trong những chức năng chính của nó. Chất xám là vùng phát triển dưới tác động của môi trường, điều kiện sống ...

 Con người trở thành động vật cao cấp là do tỉ lệ chất xám cao hơn hẳn chất trắng.

      III.4.3- Vỏ não của động vật cấp thấp kém phát triển hơn vỏ não của động vật cấp cao.



III.4.4 Mối tương quan giữa vân da và vỏ não:

Động vật cấp thấp, như lợn, thỏ…số lượng vân da ngón tay của nó khá thấp; Động vật cấp cao như người, khỉ, vượn…thì có số lượng vân da ngón tay khá cao. Sự khác biệt lớn nhất giữa động vật cấp cao và động vật cấp thấp đó là NĂNG LỰC TƯ DUY. Động vật cấp cao có năng lực tư duy còn động vật cấp thấp thì không có.

III.4.5- Cấu tạo chất xám vỏ não:

Vỏ não được chia làm 4 thùy, mỗi thùy đều có chức năng riêng biệt. Cụ thể như sau:

CHỨC NĂNG CẤU TẠO VỎ NÃO

1

THÙY TRÁN

Biểu đạt, trao đổi, tư duy, phán đoán, kế hoạch, sáng tạo

2

THÙY ĐỈNH

Chức năng ngôn ngữ, khái niệm không gian

3

THÙY

THÁI DƯƠNG

Lý giải ngôn ngữ, cảm nhận âm thanh, trí nhớ, cảm xúc

4

THÙY CHẨM

Cảm nhận thị giác, phân biệt thị giác



Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

Video Clip mới


LỊCH LÀM VIỆC CỦA VP VALA

THỜI GIAN

GIỜ LÀM VIỆC

SÁNG

CHIỀU

Thứ 2

Nghỉ

Thứ 3 -> 6

8h30 - 12h

1h30 - 6h

Thứ 7

Nghỉ

1h30 - 6h

Chủ Nhật

8h30 - 12h

Nghỉ 

Thăm dò ý kiến

Nếu được lựa chọn, bạn sẽ :
 
Số lượt truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
(Kể từ ngày 28/11/2010)
HỘI KHOA HỌC TÂM LÝ - GIÁO DỤC VIỆT NAM
VP tham vấn Gia đình và Trẻ em VALA

Cơ sở 1: Số 8 - Ngõ 255 - Đường Cầu Giấy - Q. Cầu Giấy - Hà Nội
Cơ sở 2: Số 1C - ngõ 31 - phố Dịch Vọng - Q. Cầu Giấy - Hà Nội   
ĐT Liên hệ: 04.37480901 - 04.37480902 - 0903.235.226
Website : http://www.tuvanvala.com *  E-mail: thamvanvala@gmail.com
tuvanvala tuvanvala tuvanvala tuvanvala tuvanvala tuvanvala